>> Liên hệ ghi danh
Phòng E0004 ĐH Tôn Đức Thắng - Nguyễn Hữu Thọ p.Tân Phong Q.7 TpHCM

2244 6263

tflc@tdt.edu.vn
>> Lượt người truy cập
Bảng chữ cái Hiragana
   Ngày cập nhật - 10/7/2014
Bảng chữ cái Hiragana

 Trong lịch sử bảng chữ cái tiếng Nhật Hiragana đã được coi là chữ viết của phụ nữ. Và một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Nhật Bản - The Tale of Genji của tác giả nữ Murasaki Shikibu trong thế kỷ 11, được viết bằng bảng chữ cái tiếng Nhật này.

Hiragana trong tiếng Nhật chủ yếu được sử dụng trong những tình huống sau:

  • Tiếp vị ngữ của động từ, hình dung từ, hình dung động từ, như tabemashita (食べました, “đã ăn”) hay thường là các bộ phận của trợ từ, trợ động từ như kara (から, “từ” (từ đâu đến đâu)) hay tiếp vị ngữ ~san (さん, “Ông, bà, cô…”).
  • Đối với các từ mô tả sự vật đã được người Nhật gọi tên từ lâu, không có chữ Hán tương ứng. Ví dụ: meshi (めし, “thức ăn”), yadoya (やどや, “nhà trọ”).
  • Trong những trường hợp nói chung là sử dụng kana chứ không dùng Kanji, cũng không dùng Katakana.
Những phụ âm kép như にゃ, にゅにょ không nên nhầm lẫn với chuỗi んや, んゆんよ. Việc kết hợp với các chữ nhỏ hình thành nên một mora, trong khi chuỗi chữ đi kèm với các chữ hàng lớn tạo thành hai mora. Ví dụ như かにゅう ka-nyu-u, (加入 gia nhập) và かんゆう ka-n-yu-u (勧誘 khuyến dụ), nghe khác nhau rõ ràng, mặc dù kiểu chữ viết Latinh có thể viết giống nhau là kanyu. Trong hệ thống Hepburn, ta có thể phân biệt với dấu phẩy: kanyū và kan'yū.

Bảng chữ cái Hiragana cơ bản: có 2 phần là nguyên âm, và nguyên âm đôi